Điều gì ảnh hưởng đến giá vàng?

Giá vàng di chuyển bằng sự kết hợp của cung, cầu và hành vi của nhà đầu tư. Điều đó có vẻ như đơn giản, nhưng cách mà các yếu tố làm việc cùng nhau đôi khi là khác thường. Ví dụ, nhiều nhà đầu tư nghĩ đến vàng như một hàng rào chống lạm phát. Tiền giấy mất giá trị và ngày càng được in nhiều hơn, nguồn cung vàng thì không đổi, việc khai thác vàng không tăng lên trong nhiều năm.

Tương quan với lạm phát

Hai nhà kinh tế học là Claude B. Erb và Campbell Harvey đã nghiên cứu giá vàng liên quan đến một số yếu tố. Nó chỉ ra rằng vàng không tương quan tốt với lạm phát. Khi lạm phát tăng lên không có nghĩa là vàng là một kênh đầu tư tốt.

Trong thời gian khủng hoảng kinh tế các nhà đầu tư đổ xô đi mua vàng. Khi cuộc suy thoái kinh tế lên cao, giá vàng tăng. Nhưng vàng đã tăng lên cho đến đầu năm 2008, đạt gần 1000 USD mỗi ounce trước khi rơi xuống dưới mức 800 USD và sau đó hồi phục tăng trở lại khi thị trường chứng khoán chạm đáy. Điều đó cho biết, giá vàng tiếp tục tăng ngay cả khi nền kinh tế phục hồi. Giá vàng đạt đỉnh điểm trong năm 2011 ở mức 1921 USD và đã giảm đáng kể từ đó.

Erb và Harvey lưu ý trong bài báo “The Golden Dilemma”, rằng vàng có độ co giãn tích cự về giá. Nhiều người mua vàng thì giá tăng lên phù hợp với nhu cầu. Nếu các nhà đầu tư bắt đầu đổ xô vào vàng, giá cả sẽ tăng bất kể chính sách tiền tệ là gì. Điều đó không có nghĩa là hoàn toàn ngẫu nhiên hoặc kết quả của hành vi đám đông. Có những “lực lượng” ảnh hưởng đến việc cung cấp vàng trong thị trường rộng lớn hơn và vàng là hàng hóa trên toàn thế giới như dầu và cà phê.

Cung cấp

Không giống như dầu hoặc cà phê, vàng không được sử dụng hết. Hầu như tất cả vàng đã từng được khai thác vẫn còn. Cố một số vàng được sử dụng trong công nghiệp, nhưng điều đó không làm tăng nhu cầu nhiều như đồ trang sức hoặc đầu tư. Các số liệu năm 2014 của World Gold Council’s cho thấy tổng nhu cầu vàng là 3923,7 tấn, nhưng chỉ có 389 tấn cho ngành công nghệ cao. Còn lại 904,6 tấn cho đầu tư và 2152,9 tấn cho trang sức. Trở lại năm 2001, khi giá vàng ở mức thấp nhất, nhu cầu vàng trang sức lên đến 3009 tấn trong khi đầu tư là 357 tấn và công nghệ là 363 tấn.

Ở các nước như Ấn Độ và Trung Quốc vàng đóng vai trò như lưu trữ giá trị, người ta mua nó và thường không bán nó (một số phải mua một chiếc máy giặt bằng cách đưa một chiếc vòng tay bằng vàng). Nhu cầu vàng trang sức có xu hướng tăng và giảm đối với giá vàng, khi giá cao thì nhu cầu sẽ giảm theo nhu cầu của nhà đầu tư.

Ngân hàng trung ương

Các nhà cung cấp thị trường lớn thường là các ngân hàng trung ương. Trong thời gian dự trữ ngoại hối lớn và nền kinh tế đang “ồn ào”, một ngân hàng trung ương sẽ giảm lượng vàng nắm giữ. Bởi vì vàng là tài sản chết, nó không trả lại, không giống như trái phiếu hoặc thậm chí là tiền trong tài khoản tiền gửi.

Điều gì ảnh hưởng đến giá vàng?

Vấn đề đối với các ngân hàng trung ương là khi nào các nhà đầu tư khác không quan tâm đến vàng. Vì vậy, một ngân hàng trung ương luôn ở nhằm bên của giao dịch mặc dù việc bán vàng chính xác là những gì ngân hàng phải làm. Kết quả là giá vàng giảm.

Các ngân hàng trung ương cố gắng quản lý việc bán vàng của họ để tránh làm gián đoạn thị trường. Được gọi là Hiệp định Washington, về cơ bản nó nói rằng các ngân hàng sẽ không bán hơn 400 tần trong một năm. Nó không có tính ràng buộc như một hiệp ước nhưng điều đó là vì lợi ích của các ngân hàng trung ương vì việc “thả bom” quá nhiều vàng vào thị trường ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến danh mục đầu tư của họ.

Một ngoại lệ là Trung Quốc. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã mua ròng vàng và điều này có thể gây áp lực tăng giá. Giá vàng vẫn giảm tuy nhiên việc mua vàng của Trung Quốc đã làm chậm lại sự suy giảm.

ETFs

Bên cạnh các ngân hàng trung ương, các quỹ đầu tư (ETFs) hiện nay là những người mua và bán vàng lớn, như là SPDR Gold Shares và iShares Gold Trust, cho phép nhà đầu tư mua vàng mà không cần mua cổ phiếu khai thác. Cả hai cổ phiếu này chào bán vàng miếng và đo trữ lượng của họ bằng một ounce vàng. SPDR hiện đang nắm giữ khoảng 9600 tấn trong khi iShares có khoản 5300 tấn. Tuy nhiên, những quỹ này được tạo ra để phán ánh giá vàng chứ không “di chuyển” giá vàng.

Căn nhắc danh mục đầu tư

Nói về danh mục đầu tư, có một câu hỏi hay cho các nhà đầu tư là lý do để mua vàng là gì. Như một hàng rào chống lạm phát, nó không hoạt động tốt, nhưng trong một danh mục đầu tư thì vàng là một kênh hợp lý. Điều quan trọng phải nhận ra là những gì nó có thể và không thể làm được.

Về giá thực, giá vàng đứng đầu vào năm 1980, nó đạt gần 2000 USD/ounce (giá trị USD năm 2014). Bất cứ ai mua vàng sau đó sẽ bị mất tiền. Cũng cần lưu ý rằng “các quy tắc” về quản lý danh mục đầu tư cũng áp dụng cho vàng. Nếu bạn muốn 2% danh mục đầu tư bằng vàng thì cần phải bán khi giá tăng và mua khi giá giảm.

Giữ giá trị

Một điều tốt về vàng: nó giữ giá trị. Erb và Harvey đã so sánh mức lương của những người lính La Mã cách đây 2000 năm để dựa vào đó tính mức lương của một người lính hiện đại. Những người lính La Mã đã được trả 2,31 ounce vàng mỗi năm, trong khi các tướng lĩnh là 35,58 ounce. Giả sử giá vàng 1600 USD/ounce, một người lính La Mã có mức lương tương đương 3704 USD mỗi năm, trong khi quân đội Hoa Kỳ là 17.611 USD năm 2011. Vì vậy, quân đội Hoa Kỳ có khoảng 11 ounces vàng. Đó là tốc độ tăng trưởng đầu tư 0,08% trong khoảng 2000 năm.

Một tướng lĩnh (tương đương với đội trưởng) đã kiếm được 61.730 USD mỗi năm, trong khi một đội trưởng quân đội Hoa Kỳ được 44.543 USD (27,84 ounce). Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận là -0,02% mỗi năm hoặc gần bằng 0.

Tuy nhiên, kết luận của Erb và Harvey là sức mua vàng vẫn không đổi. Nó cũng có vẻ không liên quan đến giá hiện tại.

Kết luận

Nếu bạn đang xem xét giá vàng, có thể bạn nên xem xét mức độ hiệu quả của nên kinh tế của một số quốc gia. Khi điều kiện kinh tế khó khăn, giá vàng thường sẽ tăng. Vàng là một mặt hàng không gắn liền với bất cứ thứ gì, vì vậy nó làm đa dạng danh mục đầu tư cho mọi người.

Đăng ký nhận tin

Nhận kiến thức đầu tư mỗi ngày qua email.

Cám ơn, bạn đã đăng ký thành công.

Đã xảy ra lỗi.

Leave a Reply